bệnh nuôi cá lóc

Bệnh nuôi cá lóc thường gặp và cách phòng trị

Trong bài viết này, hãy cùng Farmvina tìm hiểu các bệnh nuôi cá lóc (hay dân gian còn gọi là cá quả, cá tràu …) và những cách chữa trị hiệu quả.

Để tránh dịch bệnh và giúp tăng năng suất, mật độ nuôi cá, bạn nên dùng ống tạo oxy đáy để cung cấp oxy và cải thiện môi trường nước. Xem tại:

Ống xốp tạo oxy nuôi thuỷ sản (nanotube / aerotube)

1. Bệnh đánh phấn (bệnh vảy trắng)

  • Nguyên nhân: Tảo noãn giáp có tính thích chua.
  • Triệu chứng lâm sàng: Thời kỳ đầu phát bệnh, cá bị bệnh vây lưng, vây đuôi và phần lưng xuất hiện chấm trắng, bên ngoài thân niêm dịch tăng nhiều. Thời kỳ cuối phát bệnh, giống như bôi một lớp phấn trắng, tục gọi là ‘bệnh đánh phấn’, chỗ ‘bôt phấn’ xuất hiện viêm loét và kế phát bệnh nấm nước, cá bệnh ăn giảm, bơi chậm, nổi lên mặt nước, gầy yếu mà chết hàng loạt.
  • Quy luật dịch bệnh: Bệnh quanh năm, nhưng mùa xuân thu là chủ yếu. Cá bột xuống ao trên dưới 15 ngày và cá giống nuôi vừa chuyển sang đông dễ bị bệnh nhất. Đặc điểm chung nhất của cá bị bệnh trong ao là nước ao có tính chua (trị số pH từ 5 – 6,5), khi nhiệt độ nước 22 – 32 độ C, bệnh này chuyển biến nhanh, tỷ lệ chết cao.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Trước khi thả, dùng vôi bột tiêu độc.
    • Định kỳ rắc vôi bột lượng dùng 1 lần 10 – 25g/mét khối, 15 ngày 1 lần.
  • Phương pháp phòng trị:
    • Ao phát bệnh phải kịp thời xả vôi bột. Lượng dùng 1 lần 5 – 20g/mét khối, xả toàn ao 1 lần, để điều hoà nước ao thành tính kiềm nhẹ.
    • Polyketoniode 10%, lượng dùng 1 lần 0,3g/mét khối, xả toàn ao, 1 ngày 1 lần dùng liền 3 ngày, đồng thời dùng vôi bột để nâng cao tính kiềm trong nước (trị số pH).

2. Bệnh xuất huyết

  • Nguyên nhân: Khuẩn đơn bào thích thuỷ khí.
  • Triệu chứng lâm sàng: Từ chân vây ngực cho đến hai bên thân ven sau gần nắp mang có đường vân xuất huyết thẳng đứng với tuyến bên thân cá. Khi nghiêm trọng phần bụng sưng to, đường ruột không mắt và cơ xung huyết.
  • Quy luật dịch bệnh: Lưu hành vào mùa hè, đặc biệt là cá giống sau khi vận chuyển dễ phát bệnh, cá giống là cá trưởng thành đều có thể lây nhiễm, tỷ lệ phát bệnh cao có thể đến 90%.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Tiêu độc ao nuôi, với ao nước dùng vôi bột hoà nước làm sạch ao, lượng vôi bột dùng là 70 – 100kg/mẫu (667 mét vuông) (nước sâu 1 mét).
    • Dùng bột bromochloroheroin 8%, lượng dùng 1 lần là 0,375 – 0,5g/mét khối, xả toàn ao, 15 ngày 1 lần.
  • Phương pháp trị liệu:
    • Chlorine dioxide 8% lượng dùng 1 lần 0,2 – 0,3g/mét khối, xả toàn ao 1 lần, khi bệnh tình nghiêm trọng, cách ngày lại dùng 1 lần.
    • Thuốc berberine hydrochloride, mỗi kg thức ăn một lần cho thêm 0,3 – 0,4g, trộn đều thức ăn cho ăn 1 ngày 1 lần, dùng liền 3 ngày.

bệnh nuôi cá lóc

3. Bệnh bụng nước

  • Nguyên nhân: Trực khuẩn Felty citrobacter
  • Triệu chứng lâm sàng: Phần bụng cá bị bệnh phình to, nhãn cầu lồi ra, vảy dựng đứng, miệng nhiều niêm dịch, hậu môn sưng đỏ, ruột xuất huyết, hoại tử, gan, tỳ, thận sưng to.
  • Quy luật dịch bệnh: Cá lóc không cùng quy cách đều có thể phát bệnh, tỷ lệ phát bệnh có thể cao đến 70 – 80%. Tỷ lệ cá chết đến 100%. Mùa dịch từ tháng 7 – 10, tháng 8 – 9 là đỉnh cao. Nhiệt độ nước 25 – 34 độ C là thời kỳ phát bệnh, nhiệt độ nước 28 – 32 độ C là thời kỳ đỉnh cao phát bệnh.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Tránh vì kéo lưới và vận chuyển làm cho cá bị thương.
    • Cải thiện chất nước.
  • Phương pháp trị liệu:
    • Dùng chlorine dioxide 8%, lượng dùng 1 lần 0,15g/mét khối, xả toàn ao, một ngày 1 lần, liên tục 2 ngày.
    • Dùng Natri thiosulfate, lượng dùng 1 lần là 1,5g/mét khối, xả toàn ao 1 lần.
    • Dùng thuốc berberine hydrocholoride, mỗi kg thức ăn một lần cho thêm 0,3 – 0,4g, 1 ngày 1 lần, liên tục 3 ngày.

4. Hội chứng loét

  • Nguyên nhân: Khuẩn đơn bào thích thuỷ khí.
  • Triệu chứng lâm sàng: Hai bên thân cá có nhiều ổ bệnh dạng ban màu đỏ hình tròn hoặc hình bầu dục, biểu bì ở giữa ổ bệnh nát loét, biểu bì hoại tử, thịt nát.
  • Quy luật dịch bệnh: Bệnh này thường vào tháng 12 đến tháng 5 năm sau, đối tượng nguy hại là cá trưởng thành, tỷ lệ chết không cao, nhưng ảnh hưởng giá trị thương phẩm của cá.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Triệt để tiêu độc ao.
    • Đảm bảo chất nước tốt, khống chế mật độ thả.
    • Trong lúc kéo lưới bắt cá giống và vận chuyển phải tránh làm tổn thương cá.
  • Phương pháp trị liệu:
    • Dung dịch bromoamine benzene 20% lượng dùng 1 lần 0,5 – 0,75g/mét khối xả toàn ao, cách 2 – 3 ngày dùng 1 lần, dùng liên tục 2 lần, đồng thời dùng bột Natri vitamin C, mỗi kg thức ăn, mỗi lần cho thêm vào 2 – 3g trộn đều, một ngày 1 lần, dùng liều 3 – 5 ngày.
    • Ngày đầu dùng complex natrichloround một lần dùng 0,5g/mét khối, xả toàn ao 1 lần, cách ngày dùng dung dịch polyketoniod, lượng dùng 1 lần là 0,45 – 0,75ml/mét khối, xả toàn ao 1 lần.

Mong rằng những kiến thức về các bệnh nuôi cá lóc như trên sẽ giúp bà con chăn nuôi thuỷ sản thành công!

Nguyễn Khắc Khoái

Câu Hỏi Thường Gặp

Cá lóc thường mắc những loại bệnh nào?.

1. Bệnh đánh phấn (bệnh vảy trắng); 2. Bệnh xuất huyết; 3. Bệnh bụng nước; 4. Hội chứng loét.

Cách phòng trị bệnh đánh phấn như thế nào?

(1) Ao phát bệnh phải kịp thời xả vôi bột. Lượng dùng 1 lần 5 - 20g/mét khối, xả toàn ao 1 lần, để điều hoà nước ao thành tính kiềm nhẹ; (2) Polyketoniode 10%, lượng dùng 1 lần 0,3g/mét khối, xả toàn ao, 1 ngày 1 lần dùng liền 3 ngày, đồng thời dùng vôi bột để nâng cao tính kiềm trong nước (trị số pH).

Cách phòng trị bệnh xuất huyết như thế nào?

(1) Chlorine dioxide 8% lượng dùng 1 lần 0,2 - 0,3g/mét khối, xả toàn ao 1 lần, khi bệnh tình nghiêm trọng, cách ngày lại dùng 1 lần; (2) Thuốc berberine hydrochloride, mỗi kg thức ăn một lần cho thêm 0,3 - 0,4g, trộn đều thức ăn cho ăn 1 ngày 1 lần, dùng liền 3 ngày.

Originally posted 2018-05-14 17:08:05.

Viết một bình luận

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.