Bệnh nuôi thuỷ sản

Bệnh nuôi cá thiểu: 9 triệu chứng hay gặp và cách trị

Tìm hiểu các bệnh nuôi cá thiểu

Trong bài viết này, hãy cùng Farmvina tìm hiểu những bệnh nuôi cá thiểu bạn thường gặp phải và cách phòng trị sao cho hiệu quả. Mong rằng chuỗi bài viết bệnh nuôi thuỷ sản này sẽ giúp ích nhiều cho bà con nông dân.

Để tránh dịch bệnh và giúp tăng năng suất, mật độ nuôi cá, bạn nên dùng ống tạo oxy đáy để cung cấp oxy và cải thiện môi trường nước. Xem tại:

Ống xốp tạo oxy nuôi thuỷ sản (Nanotube / Aerotube)

1. Bệnh viêm ruột

  • Nguyên nhân: Trực khuẩn đơn bào sản khí dạng điểm (bacillus monospore gasoformans punetate).
  • Triệu chứng lâm sàng: Thân cá màu đen, hoạt động chậm, tách đàn, ăn giảm, bụng cá phình to, hậu môn sưng đỏ, có dịch vàng tiết ra, ruột xung huyết phát viêm, thành màu đỏ nhạt, mủ máu làm nghẹt đường ruột.
  • Quy luật dịch bệnh: Chủ yếu nguy hại cá lớn, nhiệt độ nước 25 – 30 độ C là thời kỳ đỉnh cao. Vi khuẩn lây nhiễm bắt nguồn từ bùn tầng đáy của thuỷ vực nuôi, động vật phù du cá bắt ăn, giun nước và bột cá trong thức ăn có khả năng lây nhiễm vi khuẩn. Chất nước xấu, mật độ thả nuôi cao rất dễ phát sinh bệnh này.
  • Phương pháp phòng trị:
    • Trước khi thả cá giống dùng vôi bột tẩy trùng ao nuôi.
    • Khi thả cá giống dùng muốn ăn ngâm, nồng độ là 2-3%, thời gian ngâm 10-15 phút.
    • Không cho ăn thức ăn thiếu chất và thức ăn biến chất.
    • Giữ chất nước tốt, mở máy tăng oxy đúng lúc hoặc dùng ống xốp tạo oxy nuôi cá, xả vi sinh vật có ích toàn ao, như vi khuẩn quang hợp, khuẩn EM.
    • Trong mỗi kg thức ăn cho thêm 2g đa đường miễn dịch vavà thuốc vi sinh vật, thông thường cho ăn liên tục 3 – 5 ngày.
  • Phương pháp trị liệu: Xả thuốc diệt khuẩn toàn ao, trong cho ăn thức ăn thuốc kháng khuẩn. Bột bromochloroheroin và chlorine dioxide 0,2g/mét khối nước. Thuốc kháng khuẩn uống trong thường dùng có. Mỗi 100kg thể trọng cá dùng tỏi 500g giã nhỏ, muốn ăn 400g trộn đều, vào thức ăn cho ăn 5 – 6 ngày.

2. Bệnh nát mang

  • Nguyên nhân: Trực khuẩn vàng dạng trụ (Flavobacterium columnar).
  • Triệu chứng lâm sàng: Bệnh nát mang là bệnh cá thường gặp, cá bệnh thân màu đen. Ăn giảm hoặc không ăn, bơi chậm tách đàn. Thân cá gầy, trên mang niêm dịch tăng nhiều, tia mang nát có bùn, mô mang xuất huyết, mục nát và băng hoại, làm cho cá khó thở, chết.
  • Quy luật dịch bệnh: Nhiều loại cá, nhiều lứa tuổi đều có thể lây nhiễm bệnh, nhiệt độ dễ lây lan dịch nhất là 28 – 35 độ C. Chất nước xấu, mật độ nuôi cao rất dễ phát sinh bệnh này.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Trước khi thả cá giống dùng vôi bột thanh trùng ao.
    • Khi thả dùng nước muối ăn, nồng độ 2 – 3%, thời gian ngâm 10 – 15 phút.
    • Trong lúc nuôi không dùng phân chưa lên men. Muốn bỏ phân, trước hết cần phải lên men.
    • Mùa phát bệnh dùng vôi bột nồng độ 20 – 30g/mét khối nước, hoặc chlorine dioxide nồng độ 0,2g/mét khối xả toàn ao.
  • Phương pháp trị liệu
    • Chlorine dioxide xả toàn ao nồng độ 0,2g/mét khối.
    • Thức ăn trộn thuốc kháng khuẩn có thể dùng đông dược, cũng có thể dùng kháng sinh. Thuốc đông dược thường dùng như mỗi kg thức ăn cho thêm bách bộ 20g, lá diếp cá 20g, bản lan căn 20g, liên tục 5 ngày là một liệu trình, có thể nhanh chóng khống chế bệnh tình.

3. Bệnh nấm nước

  • Nguyên nhân: Nấm nước có hơn 10 loại, trong đó thường thấy nhất là 2 loại nấm nước và nấm xơ.
  • Triệu chứng lâm sàng: Cá bị bệnh bơi thất thường, nôn nao bất an. Khuẩn xơ đã xâm nhập vào vết thương và sinh trưởng phát triển cả trong ra ngoài lan rộng phát tán, thành dạng xơ bông màu trắng tro phủ bề mặt thân cá. Cho đến khi thịt loét nát, mất khả năng ăn, gầy yếu mà chết. Khuẩn nấm nước có thể lây nhiễm trứng cá. Một khi trứng biến thành trứng mốc dạng cầu lông màu trắng, trứng sẽ chết.
  • Quy luật dịch bệnh: Nấm nước tồn tại rộng trong thuỷ vực nước ngọt, thích ứng với nhiệt độ 5 – 26 độ C. Bệnh nấm nước là do khuẩn nấm nước xâm nhập vào vết thương của thân cá gây ra, thân cá bị thương là nguyên nhân chủ yếu phát sinh bệnh nấm nước. Phát sinh sau những thao tác kéo lưới, tách lồng, vận chuyển.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Tránh làm thân cá bị thương. Vảy của cá thiểu tương đối lỏng, rất dễ bị thương.
    • Nuôi dưỡng hợp lý, khống chế thích đáng mật độ nuôi.
    • Trước khi thả cá giống xuống ao, dùng nước muối nồng độ 3 – 5% tiêu độc.
    • Trứng thụ tinh trước khi nở phải tiến hành tiêu độc, nhiệt độ nước tốt nhất ở 26 – 28 độ C trong quá trình trứng nở còn phải tiêu độc lại lần nữa đối với trứng thụ tinh.
  • Phương pháp trị liệu: Muối ăn (400g/mét khối) + sodium bicarbwate (400g/mét khối), ngâm cá bị bệnh 24 giờ, cũng có thể dùng nồng độ này xả toàn ao.

bệnh nuôi cá thiểu

4. Bệnh trùng bánh xe

  • Nguyên nhân: Trùng bánh xe và trùng tiểu bánh xe (trichodina và trichodina nhỏ).
  • Triệu chứng lâm sàng: Trùng bánh xe sinh ở mang cá, da, lỗ mũi, bàng quang và niệu quản. Khi lây nhiễm nghiêm trọng, cá bột, cá giống không ăn, tăng niêm dịch chỗ ký sinh nhiều, hình thành lớp niêm dịch. Thân và trên mang bẩn, sưng xung huyết.
  • Quy luật dịch bệnh: Quanh năm lây lan vào tháng 5 – 8, mùa hạ và mùa thu là mùa lây lan chủ yếu. Nhiệt độ nước thích hợp là 20 – 28 độ C, trị số pH thấp dễ phát sinh bệnh trùng bánh xe. Trùng bánh xe chủ yếu nguy hại cá bột, cá giống, lây nhiễm trực tiếp với thân cá, có thể truyền bá theo nước, sinh vật trong nước và dụng cụ nuôi cá.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Dùng vôi bột làm sạch ao.
    • Dùng vôi bột xả toàn ao, nâng cao trị số pH của nước, cải thiện chất nước.
  • Phương pháp trị liệu:
    • Nước muốn ăn 2% ngâm cá bị bệnh trên 15 phút, hoặc dùng nước muối 3% ngâm trên 5 phút.
    • Nấu nước cành lá cây xoan đâu xả toàn ao, mỗi mẫu (sâu 1 m) (1 mẫu = 667 mét vuông) dùng lá cành cây xoan đâu 15 – 30 kg.

5. Bệnh tiểu qua trùng (bệnh đốm trắng – white spot disease):

  • Nguyên nhân: Đa tử tiểu qua trùng (tiểu qua trùng nhiều con)
  • Triệu chứng lâm sàng: Ký sinh ở thân cá, vây, mang, đầu, xoang miệng và mắt. Hình thành đốm trắng nhỏ, thường gọi là bệnh đốm trắng, khi nghiêm trọng thân phủ một lớp màng màu trắng, biểu bì nát, rụng, rụng vây, mờ mắt; thân cá bị bệnh thành màu đen, gầy yếu, nổi lên mặt nước, không lâu chết hàng loạt, tỷ lệ chết 30 – 90%.
  • Quy luật dịch bệnh: Là một loại trùng nguyên sinh nguy hại tương đối nghiêm trọng. Nhiệt độ thích hợp là 15 – 25 độ C, nhiệt độ nước quá 28 độ C ấu trùng dễ chết, bệnh lây lan vào đầu xuân và cuối thu. Trong điều kiện chất nước gầy, nuôi bè lưới mật độ cao, bệnh này càng phát triển mạnh.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Dùng vôi bột tẩy trùng ao nuôi cá.
    • Nuôi mật độ hợp lý, bón phân thích hợp, bảo đảm chất nước tốt.
  • Phương pháp trị liệu: Bột ớt + gừng miếng khô giã nhỏ nấu nước xả toàn ao. Mỗi mẫu (nước sâu 1m), dùng bột ớt 250g, gừng khô miếng hỗn hợp cho nước nấu sôi xả toàn ao.

6. Bệnh giun nhẫn

  • Nguyên nhân: Có nhiều loại giun nhẫn.
  • Triệu chứng lâm sàng: Khi ký sinh lượng lớn, thường vì tia mang sưng to mà làm cho nắp mang mở ra, cá bị bệnh bơi ở vùng nước cạn ven bờ, không tập trung, thở khó, ăn giảm, mang bẩn, niêm dịch tăng nhiều, tia mang sưng to, thân cá đen, bơi chậm hoặc bơi gấp, nhảy lên, dễ gây ra bệnh mang nát có tính vi khuẩn.
  • Quy luật lây lan: Chủ yếu vào mùa hè và mùa thu, mùa rét và mùa nóng gắt ít phát bệnh, đối với nuôi lồng cá thiểu nguy hại rất nghiêm trọng. Khi nhiệt độ cao tảo lam phát sinh nhiều và thiếu oxy, cá thiểu chết sớm, chết nhanh hơn bốn loại cá lớn khác.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Tiêu độc ao.
    • Cá giống nuôi thả tinh thể dipterex (1g/mét khối) hoặc potassium permangate (15 – 20g/mét khối) ngâm 15 – 30 phút.
  • Phương pháp trị liệu:
    • Dùng tinh thể dipterex 90% nồng độ 0,2 – 0,3g/mét khối xả toàn ao. Khi dùng thuốc phải ngừng cho ăn. Sau khi dùng thuốc nếu phát hiện cá có tình hình khác thường, phải kịp thời mở máy tăng oxy. Sau khi dùng thuốc 24 giờ, thay 1/3 nước ao.
    • Nuôi lồng bè, dùng mebendazol, theo mỗi ngày mỗi kg thể trọng dùng lượng 50 mg trộn thức ăn cho ăn liên tục 3 ngày.

7. Bệnh sán móc

  • Nguyên nhân: Sán móc.
  • Triệu chứng lâm sàng: Sau khi cá nhỏ bị bệnh, ăn giảm, thân cá gầy, bơi chậm, mất cân bằng, thậm chí phần đầu của sán móc chui vào trong thạn của chủ ký sinh – bộ phận sán móc ký sinh phát viêm sưng đỏ, mô hoại tử, dễ phát sinh bệnh khác. Phần đầu sán móc chui vào thân cá, dưới vảy, giống như kim nhỏ cắm vào thân cá, do đó còn gọi là ‘bệnh giun kim’, khi sán móc dần dần lão hoá, trên thân giun bám đầy loài tảo và động vật nguyên sinh, thân cá giống như khác áo tơi, gọi là ‘giun áo tơi’.
  • Quy luật dịch bệnh: Nguy hại đến cá thiểu các lứa tuổi khác nhau, nhất là cá giống. Cuối xuân đầu hạ là mùa lây lan nhiều.
  • Phương pháp dự phòng:
    • Dùng vôi bột tẩy sạch ao, tiêu diệt ấu trùng trong nước và cá cùng nòng nọc mang giun.
    • Mỗi mẫu 20kg cành thông đuôi ngựa, bó thành nhiều bó cho xuống ao.
  • Phương pháp trị liệu: Dùng tinh thể dipterex nồng độ 0,2 – 0,3g/mét khối xả toàn ao. Kịp thời mở máy tăng oxy, sau khi dùng thuốc 24 giờ, thay nước ao 1/3. Trong 4 – 5 táhng, dùng lá cây phong dương, hoặc lá cây thông xanh 15 – 30 kg, chia thành 5 – 6 bó cắm xung quanh vùng ao cho cá ăn, sau 1 tuần nhổ lên.

8. Bệnh rết nước

  • Nguyên nhân: Rết nước
  • Triệu chứng lâm sàng: Trên thân cá có một vết thương vòng tròn ngoài da sưng đỏ, hoặc vây đuôi không hoàn hảo. Cá thể rết nước tương đối lớn, mắt thường có thể nhìn thấy.
  • Quy luật dịch bệnh: Rết nước là một loại trùng hại thuỷ sinh vô cùng hung dữ, ham ăn, thường xuyên dùng hàm răng to cắn chết cá bột để hút lấy dịch thể của cá. Một ngày đêm kẹp chết 16 – 20 con cá bột giống. Rết nước đối với cá giống trên 3cm không còn nguy hại nhiều nữa.
  • Phương pháp dự phòng: Dùng vôi bột tiêu độc ao nuôi, tiêu diệt rết nước.
  • Phương pháp trị liệu: Tinh thể dipterex xả toàn ao, nồng độ 0,2 – 0,3g/mét khối. Xả nước trên dưới 1m ven bờ, là có thể khống chế được rết nước.

9. Bệnh gan mật:

  • Nguyên nhân: Chủ yếu thức ăn quá nhiều dinh dưỡng, thiếu hoặc mất cân bằng thành phần, thức ăn biến chất, có chất độc hại, lạm dụng thuốc hoá học, mật độ nuôi quá lớn, môi trường nước xấu, lây nhiễm vi rút, vi khuẩn. Những yếu tố đó đều có thể làm hại gan tạng.
  • Triệu chứng lâm sàng: Gan sưng to, biến sắc, tia mang mất màu là triệu chứng điển hình.
  • Phương pháp dự phòng: Cải tiến công thức pha chế thức ăn, nâng cao chất lượng thức ăn, vitamin và muối vô cơ trong thức ăn.
    • Kiên trì phương pháp cho ăn “4 định” “4 nhìn”.
    • Tăng cường quản lý chất nước, định kỳ thay nước.
    • Định kỳ xả thuốc tiêu độc nước và thức ăn.
  • Phương pháp trị liệu: Kiến nghị định kỳ cho ăn thức ăn thuốc làm phương pháp dự phòng, trong đánh bắt, thả nuôi, vận chuyển tránh làm tổn thương thân cá.

Print Friendly, PDF & Email
Loading...
Từ Khoá

Farmvina - Thư viện nông nghiệp

Farmvina là tập hợp một nhóm những người tâm huyết với nghề nông cùng góp tâm sức hỗ trợ nông nghiệp Việt Nam phát triển. Chúng tôi đến từ nhiều nơi khác nhau, từ Sài Gòn đến Đắk Lắk sang nước ngoài như Mỹ, Úc, Singapore … Kinh phí hoạt động do một số mạnh thường quân hỗ trợ.

Bài Liên Quan

Một Bình Luận

  1. tôi muốn tìm mua các loại cá giống như ; cá chạch sông đà , cá bò sông đà , cá thiểu sông đà. tất cả là giống thuần chủng k lai tạo giống khác.
    sdt liên hệ 0986261530 tên d.
    d/c sơn la
    facebook diệp phượt

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

Close
Close